Giảm 5% cho khách hàng nhân ngày Chè Thế Giới

Rừng chè shan tuyết Sơn La vờn mây giữa đất trời

Rừng chè shan tuyết Sơn La vờn mây giữa đất trời

Là một tỉnh vùng biên cương giáp với Lào, có độ cao trung bình từ 600 – 700m so với mực nước biển, nhưng cũng có những khu vực rộng lớn như cao nguyên Nà Sản cao hơn 800m và Mộc Châu ở độ cao hơn 1000m. Sơn La gây ấn tượng các du khách bởi sự chia cắt mạnh mẽ của địa hình, từ những dãy núi cao chập chùng hùng vĩ cho tới thung lũng thăm thẳm.

Tổng quan về vùng đất trồng trà shan tuyết Sơn La

Nhờ đặc trưng có nhiều sông suối, mà trong đó nổi bật nhất là hai con sông lớn. Sông đà chảy từ tỉnh Vân Nam Trung Quốc và Sông Mã bắt nguồn từ địa phần tỉnh Lai Châu, cùng hơn 35 con sông nhỏ và hàng trăm suối thác phân bổ khắp các dãy núi, sườn đồi và đồng bằng trong tỉnh. Sơn La có nguồn nước dồi dào và thanh sạch, cung cấp cho các khu rừng nằm giữa những dãy núi hùng vĩ, trùng điệp; cũng như những thôn bản giữa các đồng bằng và cheo leo nơi sườn đồi. Chính những điều trên đã tạo nên các cảnh quan thiên nhiên độc đáo, từ các sườn núi chập chùng quanh năm được mây mù ôm ấp tạo thành những “biển mây”, “sông mây”. Cho đến những ngọn thác đổ xuống từ vách núi cao thăm thẳm, nằm giữa tán rừng nguyên sinh. Với vị trí là tỉnh đông dân nhất vùng Tây Bắc Bộ, cũng như giáp với biên giới Lào. Sơn La có đặc điểm dân cư đa dạng thành phần các dân tộc, với bản sắc văn hoá đặc trưng, nhưng chủ yếu tản mác khi hơn 80% dân số sống ở nông thôn, rải rác giữa các dãy núi và sườn đồi. Tạo nên những nét đầy màu sắc của văn hoá bản địa. được thiên nhiên ưu đãi, Sơn La có thời tiết mát mẻ quanh năm, mùa hè không quá nóng, mùa đông không quá lạnh. Cùng với độ ẩm luôn ở mức ổn định, mưa chỉ tập trung vào vài tháng(tháng 5, tháng 6) nên thiên nhiên của Sơn La quanh năm xanh tốt, ít khi bị lũ lụt.

Rừng chè shan tuyết Sơn La vờn mây giữa đất trời

Phong thổ rừng trà shan tuyết Sơn La

Những rừng chè shan tuyết cổ thụ của Sơn La phân bố chủ yếu ở huyện Tà Xùa, giáp với địa bàn tỉnh Yên Bái, trải dọc quanh sườn núi của dãy Tà Xùa huyền bí. Các rừng chè shan nằm ở độ cao 1200m – 1500m, suốt hàng trăm năm tận hưởng sự ưu đãi của thiên nhiên nhờ một nền nhiệt độ mát mẻ, mưa thuận gió hoà. Chính điều này đã khiến cho những rừng chè shan tuyết Tà Xùa phát triển xanh tốt quanh năm, với những khu vực có cây cao đến 5 – 8m thuộc Làng Sáng, Bản Bẹ. Cùng những rừng chè cổ thụ trên trăm năm tuổi thuộc Chung Chinh. Chè shan tuyết Sơn La nhờ sống trong điều kiện ít nắng, nhiệt độ thấp đặc trưng của vùng cao. Chè núp dưới biển mây Tà Xùa, trên nền đá sét và đá vôi giàu vi lượng và khoáng chất. Khiến các sản phẩm chè xanh Tà Xùa có hương phức tạp bởi nhiều hợp chất tự nhiên và vị nhẹ nhàng dễ chịu.

a. Rừng trà shan tuyết Bản Bẹ tại Tà Xùa

Từ trung tâm huyện Trạm Tấu tỉnh Yên Bái, Hạnh Trà đi dọc theo dãy Tà Xùa để đến với huyện Bắc Yên, nơi có thiên đường mây đã thu hút không biết bao nhiêu lữ khách mỗi năm, cùng những rừng chè shan tuyết cổ thụ lâu đời, suốt hàng thế kỷ ẩn náu giữa sương trắng, mây mù, được tự nhiên ôm ấp, quanh năm sống trong thời tiết ôn hoà, nhu thuận. 

Tà Xùa có thể được ví như một đà Lạt hay Sapa của Sơn La; khi vừa có rừng núi hùng vĩ, cùng thảm thực vật xanh tốt quanh năm, vừa có thời tiết dễ chịu, ôn hoà. Tà Xùa mênh mang những suối, thác cheo leo nơi rừng núi; ấp ủ vô số mây ngàn, sương rừng quần tụ theo bóng núi mỗi sáng và chiều, chỉ chừa lại vài giờ nắng nhẹ đủ phớt những ngọn thông xanh rì rung rinh trong gió. Tà Xùa có thành phần dân tộc chủ yếu là người H’mông. Sống rải rác quanh các bản làng men theo sườn núi, đôi khi là giữa các rừng chè shan cổ thụ bạt ngàn không biết đã tồn tại từ bao giờ. 

Tại Bản Bẹ, ẩn mình dưới tán rừng bóng núi là vùng chè rừng shan cổ thụ trải rộng hơn 40ha, với khoảng 1560 cây. Trong đó nổi bật nhất là quần thể 200 cây trà shan tuyết cổ thụ có tuổi đời từ 200 – 600 năm được công nhận là cây Di sản Việt Nam. Với những cây có thân to bằng một vòng tay người lớn, tán xòe rộng phủ đầy những búp non mơn mởn, cao vượt lên từ 5 – 7m che chở cho những mái nhà H’mông.

Rừng chè shan tuyết Sơn La vờn mây giữa đất trời

b. Rừng trà shan tuyết cổ thụ Chung Chinh tại Tà Xùa

Cách Bản Bẹ khoảng 10 cây số đường đồi núi gập ghềnh là Chung Chinh, nằm cheo leo ở độ cao 1300m so với mực nước biển.

Tà Xùa là một từ đọc trại từ tiếng H’mông có nghĩa là dược liệu, núi Tà Xùa tức là ngọn núi mà xung quanh mọc lên những cây thuốc quý, có giá trị. 

Cho đến tận ngày nay, đồng bào người H’mông ở Chung Chinh nói riêng và Tà Xùa nói chung ngày ngày vẫn hái những cây thuốc mọc tự nhiên để chữa bệnh. Cây chè shan tuyết của Chung Chinh tán thưa, thân cao từ 2 – 3m, vài cây vươn lên trên 5m. Búp và lá nhỏ, đôi khi hơi ửng đỏ do sống giữa đất cằn. Nếu so với rừng chè shan tuyết ở Bản Bẹ thì rừng chè shan tuyết Chung Chinh không thể hùng vĩ bằng, khi những thân chè như oằn mình chống lại sự cằn cỗi của đất. Nhưng cũng chính trong sự khắc nghiệt ấy, mà cây chè shan tuyết ở Chung Chinh luyện được một thứ hương vị tuyệt hảo. Chắt chiu những khoáng chất tốt lành trong đất đá và không khí thanh sạch của bầu  trời. 

Rừng chè shan tuyết Sơn La vờn mây giữa đất trời

Cây chè shan tuyết đối với người H’mông không chỉ là một thức uống giản dị hằng ngày mà con là một vị thuốc. Bởi lẽ, chữ “chè” trong tiếng H’mông cũng chính là chữ thuốc, theo đó “một chén trà là một chén thuốc”. Và đó là lý do, bà con H’mông nơi núi cao chạm trời này thường có tuổi thọ cao và sức khỏe dẻo dai. 
Từ ngàn xưa đồng bào H’mông đã biết dùng nước chè shan tuyết để trị các chứng bệnh về tiêu hoá, hay tắm nước chè để chữa lở loét, mụn nhọt do trong chè có chất sát trùng, sát khuẩn. Nhưng đến ngày nay, những công dụng của chè, cũng như hình bóng của chè trong văn hoá H’mông không còn nữa... điều đó đã vô tình khiến cho giá trị cây chè của người H’mông bị giảm sút. Có đôi khi vì cuộc mưu sinh, đồng bào đã phải ngậm ngùi đốn bỏ những gốc chè đã có từ thời tổ tiên để trồng ngô, trồng lúa.
Và những câu chuyện như thế không chỉ xảy ra ở Tà Xùa, nó tản mác khắp nơi trong những vùng chè rừng lâu đời của Việt Nam. Những câu chuyện vừa đau lòng vừa xót xa, khi người dân sống giữa bạt ngàn báu vật của trời mà lại thiếu ăn, thiếu mặc. Chúng tôi ngậm ngùi chợt nghĩ, chừng nào giá trị của chè shan tuyết Việt Nam vẫn còn chưa được đông đảo cộng đồng biết tới, thì những thân chè vẫn bị khai thác đến cạn kiệt và chìm vào huyền thoại. Khi thương hiệu chưa được gọi tên, vùng chè chưa được bảo vệ thì còn vô số thân phận người, thân phận chè vẫn chìm nổi lênh đênh... Đó là lý do Hạnh Trà ra đời.

← Bài trước Bài sau →